Một khảo sát thị trường chứng khoán Việt Nam qua một số phân tích thống kê


Sốt và ảo?

Nhiều nhà phân tích cho rằng thị trường chứng khoán Việt Nam quá sốt hay ảo. Và rằng niềm tin thị trường đã bị đẩy lên quá mức với các sự kiện Việt Nam gia nhập WTO, Tổng thống Hoa Kỳ G.W. Bush ghé thăm TTGDCK Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó loạt các báo cáo nghiên cứu về niềm tin của người tiêu dùng, nhà đầu tư, tổ chức tài chính…vào Việt Nam với nhiều dấu hiệu tích cực tạo cảm giác phấn chấn cho giới đầu tư trong nước. Dẫu biết rằng có thể làm cho thị trường chứng khoán khởi sắc và kinh tế Việt Nam thăng hoa trong thời gian hiện tại và sắp tới bằng cách tác động đến yếu tố niềm tin của nhà đầu tư; thì vấn đề niềm tin đó có được xây dựng trên một cơ sở vững chắc hay không vẫn còn cần phải xem xét!

Hãy cùng khảo sát ba cổ phiếu thuộc hàng “đại gia”: cổ phiếu FPT, cổ phiếu Vinamilk, và cổ phiếu Kinh Đô.

Vỏn vẹn trong vòng ba tháng kể từ khi chính thức niêm yết trên thị trường chứng khoán, giá cổ phiếu FPT đã tăng liên tục với mức tăng được tính bằng số “lần”. Tốc độ tăng trưởng của giá cổ phiếu FPT quả thực thần kỳ. So với sự tăng trưởng của cổ phiếu FPT thì các cổ phiếu hàng đầu trong ngành của thế giới như: Oracle, Microsoft hay Yahoo và cả Google cũng không địch lại – P/E của FPT đạt 75 lần, “vượt mặt” đại gia Google “chỉ có” 63,37 lần, trong khi bình quân ngành của thế giới là 33,42 lần. (Chi tiết xem bảng 4).


Bảng 1: Chỉ tiêu của Kinh Đô so với trung bình ngành và một số công ty trên thế giới

Chỉ tiêu

Kinh Do Corp

Kraft Food Inc.

ConAgra Foods Inc.

Bình quân Ngành

Giá trị thị trường (M$)

0,432

55.790

13.050

15.530

Doanh thu (M$)

10,28

34.650

11.680

8.880

Lợi nhuận gộp/Doanh Thu

22,8%

36,22%

25,08%

37,09%

Lợi nhuận trước thuế, lãi vay và giảm trừ (EBITDA) (M$)

1,176

6.300

1.590

1.720

Lợi nhuận hoạt động/Doanh Thu

8,4%

15,66%

10,70%

14,83%

Lợi nhuận ròng (M$)

1,176

3.210

470,5

670,18

EPS

2,756

1,93

0,803

1,99

P/E

83,82

17,59

32,18

23,67

Nguồn:Tác giả tổng hợp

P/E cao của FPT dường như không phải cá biệt. Cổ phiếu Kinh Đô có P/E 83,82 cao hơn gần bốn lần mức bình quân ngành. Hai công ty Kraft Food Inc. và ConAgra Foods Inc. dù có mức lợi nhuận trước thuế, lãi vay và giảm trừ (EBITDA) gấp hàng nghìn lần Kinh Đô thì chỉ tiêu P/E vẫn chỉ đạt không tới một nửa.  (Chi tiết xem bảng 1).

P/E cao của các cổ phiếu Việt Nam liệu có phải là một qui luật khi điều này tiếp tục đúng với trường hợp của cổ phiếu Vinamilk? Dù khiêm tốn hơn với con số 50,42, Vinamilk vẫn có P/E gần gấp đôi mức bình quân ngành. Các công ty quốc tế hoạt động trong cùng lĩnh vực, kể cả thương hiệu nổi tiếng toàn cầu Coca-Cola, cũng không thể mơ tới mức P/E này. (Chi tiết xem bảng 2).

Bảng 2: Chỉ tiêu của Vinamilk so với trung bình ngành và một số công ty trên thế giới

 

Vinamilk

Wimm-Bill-Dann

Foods OJSC

Coca-Cola Co.

Groupe Danone

Bình quân ngành

Giá trị thị trường (B$):

1,90

2,94

113,06

40,02

2,86

Doanh thu (B$):

0,805

1,63

23,71

17,89

10,45

Lợi nhuận gộp/Doanh Thu

26,09%

34,17%

65,82%

49,02%

32,05%

Lợi nhuận trước thuế, lãi vay

và giảm trừ (EBITDA) (B$)

0,12

0,200

8,38

3,23

0,92

Lợi nhuận hoạt động /Doanh Thu

14,79%

8,64%

27,28%

13,55%

8,83%

Lợi nhuận ròng (B$)

0,012

0,074

5.27

1.53

0,031

EPS

3,81

1,698

2,232

2,43

0,18

P/E

50,42

39,34

21,61

13,6

30,5

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Thử tìm hiểu rõ hơn nguyên nhân của hiện tượng này với cổ phiếu FPT.

FPT là một công ty phân phối điện thoại đi động và sản phẩm công nghệ thông tin

Cổ phiếu Công Ty Cổ Phần Phát Triển Đầu tư Công Nghệ FPT được niêm yết chính thức ngày 13/12/2006. Trước ngày được UBCK cấp giấy phép niêm yết (21/11/06), giá FPT tăng nhanh qua các mốc như: bán cho các cổ đông chiến lược Intel CapitalTexas Pacific Group ở mức khoảng 9 tới 10 lần mệnh giá, mức giá giao dịch trên thị trường OTC gấp 23 lần mệnh giá, trước khi chính thức đạt 60 lần mệnh giá vào ngày 22/01/2007 vừa qua (600.000 VND/cổ phiếu với mệnh giá 10.000 VND/cổ phiếu).


Bảng 3: Cơ cấu doanh thu các năm theo từng lĩnh vực (Đơn vị: Triệu đồng)

Lĩnh vực

Năm 2003

Năm 2004

Năm 2005

Đến 30/09/2006

Giá trị

Tỷ lệ

Giá trị

Tỷ lệ

Giá trị

Tỷ lệ

Giá trị

Tỷ lệ

Phân phối điện thoại di động

1,421,783

45%

2,556,195

50%

4,659,585

57%

4,936,235

64%

Tích hợp hệ thống

806,904

25%

1,209,094

24%

1,588,040

19%

940,327

12%

Phân phối sản phẩm CNTT

662,420

21%

804,837

16%

1,132,176

14%

880,908

11%

Dịch vụ Internet

108,788

3%

186,509

4%

322,629

4%

393,706

5%

Sản xuất lắp ráp máy tính

75,624

2%

184,766

4%

205,816

3%

174,167

2%

Phần mềm xuất khẩu

29,732

1%

68,443

1%

145,597

2%

163,728

2%

Phần mềm trong nước

45,411

1%

55,945

1%

87,256

1%

57,225

1%

Dịch vụ đào tạo

16,478

1%

22,113

0%

26,445

0%

25,760

0%

Dịch vụ ERP

0%

9,647

0%

21,971

0%

14,818

0%

Dịch vụ truyền thông

0%

0%

20,108

0%

138,493

2%

Khác

4,818

0%

1,942

0%

1,368

0%

80

0%

Tổng cộng

3,171,958

100%

5,099,491

100%

8,210,991

100%

7,725,447

100%

Nguồn: Trích bản cáo bạch FPT

Bản cáo bạch FPT công bố số liệu đến 30/09/2006 cho thấy phần lớn tăng trưởng doanh thu qua các năm là từ nguồn doanh thu bán điện thoại di động với mức đóng góp lên đến 64% tổng doanh thu chín tháng đầu năm 2006. Tăng trưởng doanh thu bình quân trong lĩnh vực này trong ba (03) năm gần nhất là gần 100%. Với các lĩnh vực kinh doanh khác không được FPT công bố chi tiết, có thể có lĩnh vực lỗ, có thể có lĩnh vực lãi.

Trong các lĩnh vực mang đúng bản chất của một công ty công nghệ như phần mềm xuất khẩu, phần mềm trong nước thì mức đóng góp vào chiếc bánh doanh thu của FPT tổng cộng đạt không quá 3%. Xem vậy thì FPT giống một công ty phân phối nhiều hơn (lệ thuộc sản phầm khác về công nghệ), chứ không giống một công ty công nghệ và phát triển phần mềm hay cung cấp dịch vụ Internet…

Điều gì sẽ xảy ra nếu FPT không có các mảng phân phối điện thoại độc quyền như: Morotola, Samsung, hay Nokia? Một ngày nào đó, ba gã khổng lồ điện thoại có thể chia sẻ thị phần cho một đối tác khác để tránh sự “ảnh hưởng” hay “quá phụ thuộc” vào một đối tác duy nhất. Giảm 1% doanh thu trong lĩnh vực phân phối điện thoại di động dẫn tới mức biến động thế nào với lãi gộp hay lãi ròng của FPT?

Nguyên tắc “không bỏ tất cả trứng vào một giỏ” sẽ được áp dụng khi một nhà phân phối chiếm quá 15% doanh thu của một tập đoàn nước ngoài. Khi đó, FPT sẽ gặp khó khăn nếu các mảng chiến lược không được phát huy như: tích hợp hệ thống, phát triển phần mềm…Nếu quả thực những điều này có thể xảy ra thì mức độ rủi ro từ doanh thu FPT rất đáng để xem xét cẩn trọng… Và khi doanh thu không đủ lớn, “kỳ vọng” của nhà đầu tư vào lãi ròng, cổ tức, tăng trưởng hay nguồn tái đầu tư nội bộ sẽ ra sao?

Cần ghi nhận việc FPT có sự chuyển hướng rất nhanh qua hai mảng chiến lược là Đại Học FPT và trang web http://www.vnexpress.net/ để khai thác tốt nhất hai lĩnh vực “tri thức đào tạo” và “truyền thông trực tuyến”. Trong đó, ít nhất, quảng cáo trực tuyến là hướng đi đúng và đã khẳng định thành công.

Chỉ số tài chính của FPT thấp hơn mức bình quân ngành và các đại gia công nghệ thế giới. Vậy tại sao FPT có P/E cao hơn?

Bảng 4: Phân tích báo cáo tài chính FPT so với các đại gia công nghệ của thế giới như Microsoft, Google, Yahoo, Oracle, và bình quân ngành.

Chỉ tiêu

 FPT

MSFT

GOOG

YHOO

ORCL

Ngành

Giá trị thị trường (M$)

2,199

305,630

152,790

39,360

88,820

243.12M

Số lượng nhân viên

7,008

71,000

5,680

9,800

56,133

204

Tăng trưởng doanh thu quý

42,4%

11.00%

70.40%

18.80%

26.50%

16.20%

Doanh thu (M$)

729

45,350

9,320

6,220

16,070

51.70M

Lợi nhuận gộp/Doanh Thu

13%

82.16%

60.18%

58.41%

76.73%

70.34%

Lợi nhuận trước thuế, lãi vay và giảm trừ (EBITDA) (M$)

38

19,000

4,050

1,940

6,510

6.53M

Lợi nhuận hoạt động/Doanh Thu

4,78%

39.38%

34.24%

15.46%

33.67%

4.08%

Lợi nhuận ròng (M$)

33

12,940

2,420

1,170

3,700

0.276

EPS

0.499

1.251

7.875

0.789

0.697

N/A

P/E

75

24.85

63.37

36.68

24.59

33.42

PEG (Dự báo 5 năm)

N/A

1.53

1.43

1.81

1.11

1.48

P/S (Thị Giá/Doanh thu trên 1 CP)

3

6.66

15.74

5.89

5.52

2.9


Nguồn: Tổng hợp từ http://finance.yahoo.com/ và Báo cáo tài chính của FPT đến 31/12/2006 (Tỷ giá quy đổi: 16,037 VND/USD)

Nhìn bảng so sánh trên ta thấy, giá cổ phiếu FPT cao hơn hẳn các đại gia mà ai cũng biết như Microsoft, Yahoo, Oracle, Google. FPT hay các công ty khác chắc chắn nhận được “hợp tác chiến lược” là đủ để “vui như tết” rồi chứ đừng nói đến việc cạnh tranh với các “nhà sáng lập” ngành công nghệ phần mềm, tích hợp cơ sở dữ liệu hay truyền thông như trên. Xét qua các chỉ tiêu như: doanh thu, lãi gộp hay hướng phát triển, tăng trưởng trong thời gian sắp tới, FPT khó có thể so sánh được với những gã khổng lồ này. Các chỉ tiêu đo lường khả năng kinh doanh (kiếm lợi nhuận) của FPT cũng thấp hơn khi so với các đại gia quốc tế:

Chỉ tiêu Lợi nhuận gộp/Doanh thu cho biết trong một 100 đồng doanh thu thì tạo ra bao nhiêu đồng Lợi nhuận gộp (Doanh thu thuần – Giá vốn hàng bán). Trong khi với Microsoft 100 đồng doanh thu tạo ra 82,16 đồng lợi nhuận gộp và mức bình quân ngành là 70,34 đồng thì FPT đạt được có 13 đồng. Ấy vậy mà người ta vẫn hết lời ca ngợi FPT và sẵn lòng cầm cố nhà cửa để đầu tư vào cổ phiếu này!

Chỉ tiêu Lợi nhuận hoạt động/Doanh thu (P/S) cho biết trong 100 đồng doanh thu thì tạo ra bao nhiêu đồng Lợi nhuận hoạt động (sau khi đã trừ đi giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý). FPT đạt 4,78%, còn thấp nhất của Yahoo là 15,46% trong năm tài chính 2006 đầy khó khăn của tập đoàn này so với đối thủ Google.

Bỏ qua các yếu tố về môi trường kinh tế nơi FPT hoạt động tại Việt Nam so với Hoa Kỳ, hay tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm, mức sống, thu nhập đầu người, điểm xuất phát…chỉ phân tích ngay chỉ số P/E hay P/S để nói mức độ sẵn lòng chi trả của nhà đầu tư cho một đồng thu nhập hay doanh thu từ FPT. Bình quân ngành mà FPT đang hoạt động là với 01 đồng thu nhập nhà đầu tư chỉ sẵn sàng trả mức 33,42 lần và với một đồng doanh thu tạo ra nhà đầu tư chỉ trả 2,9 lần. Trong khi với gã khổng lồ Google được cho là “công ty siêu kỳ” trong các năm gần đây, nhà đầu tư cũng chỉ chịu móc hầu bao trả mức cao nhất P/E: 63,7 và P/S: 15,74 hay “siêu” khác là Microsoft chỉ ở mức P/E: 24,85 và P/S: 6,66! Vậy điều gì nhận được từ các con số biết nói bên trong? FPT tốt hơn và đáng giá hơn Google, Microsoft hay Oracle?

Riêng tôi thì tôi đã có câu trả lời cho riêng mình về mức giá “hợp lý” và mức dừng hợp lý. Các bạn có thể thảo luận thêm và đưa ra lời cảnh tỉnh sâu sắc nhất. Và vì sao tôi lại lấy các công ty “sáng lập ngành” của thế giới mà ai cũng biết để so sánh như: Yahoo, Google, Microsoft hay Oracle? Là vì tôi muốn các bạn hay các nhà đầu tư thấy được ngay cả với các công ty này nhà đầu tư cũng chỉ trả một mức giá “xem như cao nhất” trong hàng ngàn các công ty cùng ngành và so sánh với FPT để cho thấy mức độ so sánh trực tiếp nhất. Nếu cho rằng FPT nhỏ hơn hay không đủ để so với các loại chứng khoán “sáng lập ngành công nghệ và internet” thì quay lại ban đầu: có thể thấy gì về sự “quá nóng” của thị trường chứng khoán Việt Nam và FPT là một ví dụ điển hình?


Hình 1: Mức độ tăng giá của FPT so với VNINDEX
 
fpt1.jpg

Hình 2: Khối lượng và giá trị giao dịch của FPT qua các phiên

 fpt2.jpg 

Bây giờ không so sánh mà phân tích trực tiếp biến động của cổ phiếu FPT từ khi lên sàn. Hình 3 và hình 4 mô tả biến động giá cổ phiếu FPT và lợi suất ngày của nó.

Hình 3: Biến động giá cổ phiếu FPT
  
 fpt3.jpg

Hình 4: Lợi suất ngày của cổ phiếu FPT
  fpt4.jpg

Xu hướng vắt lên theo đường đồ thị giá thể hiện kỳ vọng không ngừng tăng cao với giá cổ phiếu FPT. Nếu không có kỳ vọng này thì sẽ không ai muốn mua cổ phiếu. Cần nhớ rằng thị trường cổ phiếu còn được coi là thuộc nhóm thị trường đầu cơ, theo nghĩa kiếm lời từ cơ hội giá tăng hay giảm.

Biểu đồ lợi suất ngày thể hiện phân bố giá trị lợi suất rất dị dạng, hầu như hoặc ở trần hay ở sàn, có rất ít điểm dữ liệu ở bên trong hai mức giới hạn. Cũng có thể thấy giá ở trần hay ở sàn là giá dư mua hoặc bán khá nhiều, thậm chí lân cận cũng dư rất nhiều. Đó là giá ở trạng thái mất cân bằng và xác lập bằng chương trình máy do bị chặn. Biên độ 5% chính là chốt chặn. Dễ hiểu một điều là thị trường đang ở trạng thái mất cân bằng nghiêm trọng. Tình hình sẽ có biến chuyển nếu biên độ là 35%, có đủ khoảng để thị trường tự điều chỉnh về cân bằng theo đúng nghĩa của nó.

© SAGA 09/02/2007 – www.saga.vn

Bùi Quang Nam, http://www.saga.vn

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: